Chiến lược “số hóa” giúp PVN tiếp cận công nghiệp 4.0

05/03/2019 07:02

Đại diện Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) khẳng định hoàn toàn có cơ sở và khả năng tiếp cận, ứng dụng thành tựu công nghệ 4.0.

Keyword đầu tiên có dấu
Vietsovpetro và các thành viên khác của PVN đều đã có kế hoạch ứng dụng công nghệ 4.0 trong công tác nghiên cứu khoa học

Phải đổi mới tư duy quản lý dầu khí

Nhận định nhu cầu cấp bách đổi mới sáng tạo của ngành dầu khí, ông Đào Trung Thành, chuyên gia tư vấn chiến lược của Tập đoàn Media Ventures cho hay: Tài nguyên năng lượng sơ cấp truyền thống đang dần cạn kiệt. Thủy điện lớn và vừa sẽ được khai thác hầu hết khi từ gần 18GW hiện nay sẽ đạt công suất khoảng 21,6GW vào năm 2020. Than nội địa hiện nay đã không đủ cung cấp cho các nhà máy điện. Tài nguyên dầu mỏ, khí đốt sẽ giảm dần và cạn kiệt trong 60 năm tới. “Vai trò dầu khí như nguồn năng lượng chủ lực sẽ được thay thế và nhường chỗ cho các nguồn năng lượng tái tạo sạch mới”, ông Thành nhấn mạnh.

Ngoài ra, bản thân ngành Dầu khí cũng có những thách thức đặc thù như: Chất lượng và quy mô nguồn lực chưa đủ tạo bứt phá và sức cạnh tranh trong hội nhập, năng suất lao động và sức cạnh tranh đặc biệt về sức sáng tạo và năng lực trí tuệ còn thấp; hệ thống quản trị vẫn theo mô hình quản lý doanh nghiệp Nhà nước, chưa theo chuẩn quốc tế liên kết từ công ty mẹ đến các công ty thành viên trong tập đoàn; hệ thống nghiên cứu ứng dụng chậm đổi mới…

“Công nghiệp 4.0 liên kết công nghệ thực và ảo, tự động hóa với dây chuyền sản xuất thông minh có thể tạo đột phá cho ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam, đòi hỏi đổi mới tư duy trong quản lý và điều hành, thực sự xem khoa học và công nghệ là công cụ quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”, ông Thành khuyến nghị.

Keyword đầu tiên có dấu
Công nghệ 4.0 đòi hỏi PVN cần sự chuyển đổi mạnh mẽ sang kỹ thuật số hóa

Thách thức không hề nhỏ

Theo ông Lê Mạnh Hùng, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), ngành Dầu khí là một trong những ngành kinh tế kỹ thuật có hàm lượng khoa học công nghệ cao với việc ứng dụng từ rất sớm các công nghệ hiện đại như khảo sát địa chấn 2D, 3D, cơ sở dữ liệu lớn, điện toán đám mây… trong sản xuất kinh doanh, cũng như ứng dụng công nghệ hiện đại bậc nhất trên thế giới trong các nhà máy chế biến đạm, lọc hóa dầu, xử lý khí… “Với hạ tầng về công nghệ thông tin, tự động hóa, năng lực làm chủ công nghệ, năng lực nghiên cứu phát triển, trình độ quản lý, nhân lực... và mức độ sẵn sàng của các DN trong PVN hiện nay, có thể nói, những yếu tố nền tảng đã được hình thành một cách chủ động và bài bản, khả năng tiếp cận và ứng dụng các thành tựu công nghiệp 4.0 vào sản xuất, kinh doanh của tập đoàn là hoàn toàn có cơ sở”, ông Hùng khẳng định.

Tuy nhiên, đại diện PVN cũng nhấn mạnh, trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0, thách thức với tập đoàn không hề nhỏ. Một chiến lược tổng thể cho toàn ngành chuyển đổi quy trình công nghệ và hệ thống quản lý sang tự động hóa, số hóa đòi hỏi chi phí đầu tư rất lớn, trong khi giá dầu hiện nay tương đối thấp và công nghiệp khai thác, chế biến dầu khí toàn cầu đang ở trong giai đoạn rất khó khăn.

Qua đây, ông Hùng chỉ ra ra hàng loạt giải pháp để PVN vượt qua thách thức như: PVN đã đẩy mạnh nghiên cứu, chuẩn hóa mã vật tư, thiết bị trong toàn ngành để cài đặt trên hệ thống thông tin của tập đoàn và kết nối trực tuyến áp dụng cho các DN trong toàn ngành; lựa chọn và thống nhất hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật kết nối để áp dụng trong từng khâu của lĩnh vực dầu khí. Thông qua việc kết nối, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn và ứng dụng Internet vạn vật, PVN có thể quản lý một lượng lớn cơ sở dữ liệu dầu khí quốc gia, bao gồm các hệ thống về dữ liệu trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, mở rộng xây dựng, kết nối với các khâu còn lại.

Bên cạnh đó, những ứng dụng như lắp đặt cảm biến thông minh nhằm “số hóa” hệ thống sản xuất, cho phép theo dõi, giám sát chất lượng sản phẩm và tài sản trong thời gian thực, giúp PVN tiết kiệm được thời gian và nhân lực trong khâu thu thập dữ liệu, đồng thời có thể phân tích và đưa ra những điều chỉnh kịp thời trong quy trình sản xuất, tối ưu hóa hiệu suất làm việc của máy móc và nâng cao tính liên kết giữa các công đoạn.

Hoàng Ngân