Chuyện những người học nghề cầu ở Sơn Hải Quan, Trung Quốc | Báo Giao thông
Bia Sài Gòn

Chuyện những người học nghề cầu ở Sơn Hải Quan, Trung Quốc

27/10/2005 - 22:57 (GMT+7)

Đêm 10-9-1969, đoàn thực tập sinh Việt Nam đi tầu đến Sơn Hải Quan (Trung Quốc). Khoảng 5 giờ sáng 11-9-1969, đội trống - kèn - lân của các bạn Trung Quốc đã múa hát nhộn nhịp đón chào Đội thực tập sinh Việt Nam từ sân ga đến cổng nhà máy Dầm cầu thép Sơn Hải Quan.

Đêm 10-9-1969, đoàn thực tập sinh Việt Nam đi tầu đến Sơn Hải Quan (Trung Quốc). Khoảng 5 giờ sáng 11-9-1969, đội trống - kèn - lân của các bạn Trung Quốc đã múa hát nhộn nhịp đón chào Đội thực tập sinh Việt Nam từ sân ga đến cổng nhà máy Dầm cầu thép Sơn Hải Quan.

Gần ba cây số đông vui ấm áp tình người, xua tan giá lạnh đầu thu của vùng Hoa Bắc mênh mông. Bạn gọi chúng tôi là những người anh em từ tiền tuyến đến học tập.

Nghỉ vài ba ngày làm quen với sinh hoạt xứ lạnh, chúng tôi tranh thủ thăm thị trấn Sơn Hải Quan, một địa danh lịch sử lâu đời kề liền thành phố Tần Hoàng Đảo với TP. Bắc Đới Hà, nơi nghỉ mát nổi tiếng bên bờ vịnh Bột Hải sầm uất.

Địa danh Sơn Hải Quan là cửa ngõ đầu tiên, tiền đồn cực kỳ quan trọng từ thời Tần Thủy Hoàng, nơi biển rộng trời cao, có mây vờn gió tuyết, núi cheo leo.

Thượng lầu "cửa ải" Sơn Hải Quan có bức hoành phi "Thiên hạ đệ nhất môn" được ghi vào đời Nhà Minh cách đây hơn 500 năm với bút pháp hài hòa - cân đối, nét Hán tự uyển chuyển, đẹp như tranh vẽ. Về sau, Sơn Hải Quan trở thành thị trấn của người thợ chế tạo dầm cầu thép.

Đoàn chúng tôi lấy tên là đội B.192, toàn những người trẻ tuổi, tràn đầy sức sống, học hai chuyên ngành: Chế tạo dầm thép (60 người) và chế thạo ghi đường sắt (30 người), trong đó có 10 nữ. Một đội trưởng, hai đội phó, một Chi bộ chịu sự chỉ đạo của Đại sứ quan Việt Nam tại Trung Quốc.

Chương trình học lấy thực tập nghề là chính, học lý thuyết là phụ. Từng tốp từ 3 đến 5 người, phân đều khắp xưởng máy, học thành nghề chuyên sâu: Lấy dấu, hàn điện, hàn hơi, khoan, bào, phay, lắp ráp... Bốn anh em trong ban chỉ huy đội? Tôi, anh Trường Minh học Dầm thép, anh Vạn và anh Quang học ghi đường sắt.

Điều vui mừng là đi đến nơi nào trong xưởng cũng gặp thực tập sinh Việt Nam. Các thầy cô dạy bảo chúng tôi đều gọi chung là sư phụ, rất chan hòa thân mật. Việc sắp xếp thời gian biểu học tập, thực tập, tham quan có phòng Bồi Huấn do sư phụ Hồ (trưởng), sư phụ Lỗ (phó) đảm nhiệm.

Các sư phụ coi việc phục vụ thực tập sinh Việt Nam ngay tại nhà máy là một vinh dự, một nhiệm vụ quốc tế, góp phần giúp Việt Nam chống Mỹ, càng làm cho toàn đội hăng say học tập hơn.

Những ngày đầu, tôi đến công chủng "lấy dấu" học đọc bản vẽ, triển khai chi tiết những công đoạn chế tạo một dầm cầu loại 80 mét...rồi lần lượt đến khắp 18 công chủng trong nhà máy, vừa học nghề, quan sát cách bố trí công xưởng, vừa nắm tình hình học tập của anh chị em trong bộ phận dầm cầu thép.

Những ngày đông giá rét, ngoài trời nhiệt độ là - 20oC, thực tập sinh cùng sư phụ bưng than đốt lò, không chỉ sưởi ấm cho người mà còn cho máy móc, vì nước làm mát máy bị đông cứng trong các ống xả. Đội B.192 rất chịu khó học tập, không ngại gian khổ, được "thầy" quý mến. đó là nhận xét của ban chủ nhiệm nhà máy.

Các sư phụ đoán biết mấy "ông" đội trưởng có trình độ đại học, nên động viên chúng tôi, chỉ cần làm được tay nghề bậc 3, hiểu được khó khăn của công nhân trong quá trình chế tạo là được.

Những tháng sắp kết thúc thực tập, tôi được sư phụ Lý hướng dẫn bài tốt nghiệp: "Triển khai chế tạo dầm cầu 80m" cần phải vẽ và thuyết minh một thanh dầm điển hình từ khâu chọn vật tư để lấy dấu cho đến các công đoạn cắt hàn, khoan lỗ hình thành một thanh dầm thành phẩm, khó nhất là định vị lỗ khoan sao cho phù hợp với độ vồng toàn cầu, nếu sai lỗ thì không lắp ráp được ngoài công trường, gây nhiều phiền toái về sau.

Suốt gần ba năm thực tập, Đại sứ Ngô Thuyền thường xuyên thăm hỏi, căn dặn chúng tôi học tập tốt, giữ gìn tình hữu nghị Việt Trung, Phòng Bồi huấn tổ chức nhiều đợt tham quan học tập, liên hệ thực tế như thăm cầu Trường Giang - Nam Kinh (22-10-1970); Thăm nhà máy chế tạo đầu máy toa xe Đường Sơn; thăm hệ thống ghi trong nhà ga.

Về nông thôn tỉnh Hà Bắc, chúng tôi thăm đội Sa Thạch Dụ (10-9-70) và Đại đội Tây Phố là những điển hình về "Ngu công dời núi" cùng nhiều di tích lịch sử văn hóa khác rất bổ ích.

Xuân qua, hè đến, ngày 10-6-1971, cả nhà máy Dầm cầu thép Sơn Hải Quan vui mừng làm lễ tốt nghiệp cho Đội thực tập sinh Việt Nam, đã hoàn thành chương trình thực tập, trở về nước chống Mỹ cứu nước. Trước đó, chúng tôi đã đến cảm ơn Chủ nhiệm nhà máy phòng Bồi Huấn và từng sư phụ.

Buổi tiễn đưa long trọng, lưu luyến từ kí túc xá đến sân ga, mỗi thực tập sinh có hai ba sư phụ mang hộ tư trang... chuyện trò vui vẻ, tiếng cười có lẫn tiếng khóc, không mấy ai cầm được nước mắt.

Đúng 14 giờ 30 phút ngày 14-6-1971, đoàn tàu hỏa chở chúng tôi rời sân ga về với người thân và Tổ quốc thân yêu, giữa tiếng vẫy chào chai chen - tạm biệt! Đại diện nhà máy tiễn chúng tôi đến ga Bằng Tường gần biên giới Việt Trung, chia tay lần cuối!

Về nước, những người học chế tạo dầm cầu thép vào Công ty cầu 3, tham gia đảm bảo giao thông tuyến đường sắt từ Ninh Bình đến Hàm Rồng trong thời kỳ Nixơn tăng cường đánh phá ác liệt miền Bắc.

Sau hiệp định Pari (27-1-1973), Công ty cầu 3 cùng một số đơn vị hoàn thành xây dựng nhiều cầu từ Ninh Bình đến Hàm Rồng lập thành tích xuất sắc.

Năm 1974, Công ty Cầu 3 tham gia xây dựng cầu Thăng Long - cây cầu lớn nhất nước, chúng tôi rất phấn khởi là người đã học chế tạo dầm cầu thép tại Sơn Hải Quan cùng nhiều anh chị em công nhân lành nghề của nhà máy GK 120 tập hợp lại thành phân xưởng cơ khí và kết cấu thép ở Bờ Bắc, chuyên chế tạo mặt bích đường kính phi 500mm cho cọc ống, vòng nút neo...

Khi đó, đã có nhiều cuộc họp chuyên đề về khả năng chế tạo giếng chìm chở nổi đường kính phi 18m, chiều cao mỗi đốt h=5m với hàng ngàn mét hàn tay không bị rổ hơi, thùng chìm chịu được áp lực lớn với nhiều thiết bị kèm theo như cần cẩu, hệ ép gió, mặt bằng, đồ gá...

Nếu thuê các xí nghiệp ở Hải Phòng chế tạo thì riêng việc vận chuyển thành phẩm bằng đường thủy và đường bộ xa hàng trăm cây số, nặng hàng nghìn tấn thép sẽ rất khó khăn, đồng thời không tận dụng được chất xám "tại chỗ" của chuyên gia Trung Quốc và cán bộ kỹ thuật Việt Nam.

Qua phân tích so sánh nhiều phương án, Tổng Giám đốc cầu Thăng Long Nguyễn Tường Lân đã quyết định chế tạo giếng chìm chở nổi tại bờ Bắc.

Tất cả cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề toàn công trường cùng với sự giúp đỡ tích cực của chuyên gia Trung Quốc, đã khắc phục mọi khó khăn, chế tạo thành công giếng chìm chở nổi đầu tiên vào 23h ngày 30-11-1975, đảm bảo chất lượng kỹ thuật, trong tiếng pháo nổ dòn với sự hân hoan của toàn xưởng máy.

Đây là thắng lợi quan trọng, quyết định đầy triển vọng cho 14 trụ cầu lúc bấy giờ !

Tôi là người được góp mặt ngay từ ngày đầu với thànhcông chung này, nên không bao giờ quên.

Trần Thạnh

Từ khóa
Ý KIẾN BẠN ĐỌC