Tế bào gốc, nano vàng có chữa được ung thư? | Báo Giao thông
Trang chủ Sức khỏe - Đời sống Bạn cần biết Tế bào gốc, nano vàng có chữa được ung thư?

Tế bào gốc, nano vàng có chữa được ung thư?

14/11/2017 - 07:05 (GMT+7)

Thời gian qua, tế bào gốc, nano vàng được cho là thần dược trong điều trị ung thư. Thực chất có phải vậy?

12

Những ngộ nhận trong điều trị ung thư khiến bệnh thêm trầm trọng

Tung hô “thần dược” nano vàng, tế bào gốc

Lâu nay, “tế bào gốc có thể chữa ung thư” vẫn là thông tin được nhiều bệnh nhân ung thư truyền tai nhau. Tuy nhiên, theo PGS. Nguyễn Bá Đức, Phó chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, trừ ung thư máu, tế bào gốc không chữa được các loại bệnh ung thư khác. Theo lý giải của ông Đức, tế bào gốc là gốc rễ của các tế bào sinh ra các tế bào khác. Có 2 loại tế bào gốc là tế bào gốc từ bên ngoài có thể thu thập ở máu cuống rốn hoặc lấy từ người khác; và tế bào gốc bên trong từ tủy xương hoặc máu ngoại vi. Với ung thư máu, khi điều trị sử dụng hóa chất, thuốc, phóng xạ để diệt các tế bào máu bị ung thư, kéo theo các tế bào miễn dịch, tế bào ung thư, hồng cầu, bạch cầu bị tiêu diệt, người ta đưa tế bào gốc vào để phục hồi, sản sinh ra tế bào máu. Tuy nhiên, với các loại ung thư khác, tế bào gốc không có chức năng sản sinh ra tế bào, ví như với ung thư phổi, thì tế bào gốc không thể sản sinh ra các tế bào phổi.

"Dinh dưỡng có thể góp phần vào việc dự phòng ung thư. Vì vậy, mỗi người nên duy trì việc ăn uống lành mạnh, cân bằng giữa các nhóm bột, đường, đạm, béo. Ngoài ra, cũng có thể bổ sung các sản phẩm nâng cao sức khỏe, các sản phẩm giàu chất oxy hóa,... Việc ăn đa dạng thực phẩm sẽ giúp cung cấp đủ chất, các tế bào cơ thể khỏe mạnh sẽ góp phần chống lại ung thư. Lưu ý, cần loại bỏ các nguyên liệu thực phẩm có dấu hiệu nấm mốc, thực phẩm có hóa chất, phụ gia không được phép sử dụng trong thực phẩm, nó làm già hóa tế bào và đó chính là tác nhân gây ung thư."

PGS.BS. Nguyễn Thị Lân
(Viện Dinh dưỡng Quốc gia)

Gần đây, không ít bệnh nhân ung thư chấp nhận bỏ ra 15 triệu đồng cho một chai nano vàng 100ml (mỗi chai uống trong một lần). Theo BS. Huỳnh Trần (thuộc Tổ chức VietMD chuyên nghiên cứu về ung thư tại Mỹ), trong điều trị ung thư, các phương pháp trị liệu ít nhất phải thử nghiệm trên người trong điều kiện kiểm soát tốt nhằm đánh giá tác dụng điều trị. Hiện nay, nano vàng chưa được xem là trị liệu (dù là thử nghiệm) trên bệnh ung thư ở người, mặc dù có nhiều tiềm năng. Tác dụng phụ lớn nhất của sử dụng nano vàng là các phần tử nano có thể bám vào tế bào bình thường (vì không phân biệt được đâu là tế bào ung thư và bình thường), từ đó làm tổn thương các mô bình thường, theo một nghiên cứu gần đây từ ĐH Rice Texas…

“Trong khi các bác sĩ và nghiên cứu viên đang phân vân về ứng dụng tốt nhất nano vàng, các nhà kinh doanh đã bắt đầu cung cấp sản phẩm nano vàng. Hiện nay, nhiều bệnh nhân ung thư tại Việt Nam đã và đang mua nano vàng về sử dụng”, ông Huỳnh Trần nhận định.

Theo khuyến cáo của BS. Huỳnh Trần, trị liệu nano vàng vẫn còn xa để trở thành phương pháp chữa ung thư được chấp nhận bởi nano vàng chưa chính xác nhắm vào tế bào ung thư, cùng với những tác dụng phụ vẫn chưa kiểm soát được. Vì vậy, phương pháp phòng ung thư như không hút thuốc, uống rượu, ăn nhiều trái cây, và quan trọng nhất là tập thể dục sẽ tốt hơn nhiều so với trị liệu ung thư bằng hạt vàng, nhất là khi chúng chưa có tác dụng rõ ràng.

Nhiều loại ung thư có thể dự phòng được

Theo PGS. TS. Nguyễn Bá Đức, khoa học đã nghiên cứu và khẳng định, có thể dự phòng được nhiều loại ung thư. Có 2 tác nhân gây bệnh ung thư, thứ nhất là những yếu tố từ bên ngoài môi trường sống. Ông Đức cho rằng, đây là nguyên nhân chủ yếu, chiếm đến 80% dẫn đến ung thư. Những tác nhân này có thể thay đổi, gồm các chất hóa học, tác động vào như thuốc lá, hóa chất từ thực phẩm, tia phóng xạ, ánh sáng mặt trời, tia cực tím từ tự nhiên, siêu vi trùng như siêu vi trùng gây viêm gan B, C, siêu vi trùng gây u nhú ở người (HPV) gây ung thư cổ tử cung. “Nếu hạn chế được các yếu tố này sẽ giảm nguy cơ mắc ung thư”, ông Đức nhận định.

Còn với tác nhân thứ hai là tác nhân nội sinh không thể phòng được, nhưng nó chỉ chiếm 20% như vấn đề tuổi tác, nội tiết. Ông Đức dẫn chứng, ví như nội tiết tố nam liên quan đến ung thư tuyến tiền liệt, yếu tố này do cơ địa con người, không dự phòng được. Ngoài ra, còn nguyên nhân gen di truyền nhưng tỷ lệ rất thấp chỉ khoảng 5%. 

Theo PGS. TS. Nguyễn Bá Đức, không phải loại ung thư nào cũng có thể phát hiện sớm, tuy nhiên cần khẳng định, nếu phát hiện sớm thì khả năng chữa được rất cao. “Để phát hiện sớm, mỗi người cần lắng nghe cơ thể mình, khi có dấu hiệu ban đầu cần đi khám chuyên khoa ngay. Ví như có vết loét lâu ngày không khỏi, có u, hạch to dần ở bất cứ vị trí nào, rối loạn tiêu hóa, đi ngoài ra máu, bí tiểu bí đái, ăn khó tiêu, rối loạn kinh nguyệt bất thường, sụt cân nhanh, ù tai, lác mắt, nhìn đôi, nói ngọng,... Tất cả những dấu hiệu này người bệnh cần đến cơ sở y tế sớm để khám”, ông Đức khuyến cáo.

PGS. TS. Nguyễn Bá Đức nhận định, đặc tính của tế bào ung thư là tái phát và di căn, phát hiện càng sớm thì khả năng chữa khỏi càng tăng. Do đó, bệnh nhân ung thư sau điều trị cần lưu ý tái khám. Ban đầu, bệnh nhân có thể tái khám sau 3-6 tháng. Nếu sau 5 năm, có thể 2 năm khám lại một lần. Nếu sau 5 năm bệnh tái phát, phát hiện tái phát sớm, điều trị triệt để ngay vẫn có thể khỏi.

Vũ Anh

Bấm LIKE để theo dõi thông tin chính thống,
tin cậy từ Báo Giao Thông
Ý KIẾN BẠN ĐỌC