49 năm giữ kỷ vật, 8 năm đi tìm mộ người yêu

11/06/2017 09:05

Đó là bà Vũ Thị Lui (thường gọi Lưu Liên), sinh năm 1946, trú phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội.

49 năm giữ kỷ vật, 8 năm đi tìm mộ người yêu

Bà Lui sống hạnh phúc cùng người chồng cũng là sĩ quan quân đội đã nghỉ hưu

Suốt 49 năm qua, những kỷ vật của người yêu - liệt sĩ Trần Minh Tiến như chiếc áo bộ đội, nhẫn đính ước, hàng trăm lá thư cùng cuốn nhật ký vẫn được bà Lui gìn giữ cẩn thận. Điều khiến bà hạnh phúc hơn cả là việc làm của bà được người chồng, cũng từng là người lính rất trân trọng và chia sẻ.

Suýt nên duyên chồng vợ

Người phụ nữ đó là bà Vũ Thị Lui (thường gọi Lưu Liên), sinh năm 1946, trú phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội. Còn liệt sĩ Trần Minh Tiến, sinh năm 1945, ở thôn Cầu Đơ, xã Hà Cầu, TX Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Sau 49 năm, hiện bà Lui đang sống cùng chồng tại nhà riêng ở phường Hà Cầu.

Tiếp xúc với PV Báo Giao thông, bà Lui cho hay, đã gần 50 năm trôi qua, song những ký ức một thời chiến tranh lúc nào cũng hiện nguyên trong tâm trí, chưa lúc nào phai nhạt. “Hồi nhỏ, tôi học ở TX Hà Đông, khi lên lớp 6, được gia đình cho chuyển về quê để học, từ đó tôi và liệt sỹ Trần Minh Tiến học cùng nhau rồi trở nên thân thiết. Hồi còn trẻ, anh Tiến là một người hát hay, tính tình vui vẻ, ăn nói có duyên, nên được rất nhiều bạn gái yêu thích. Nhưng khi ấy tình cảm của chúng tôi vẫn chỉ dừng lại ở mức độ bạn bè. Mãi đến khi đi bộ đội, anh ấy mới ngỏ lời yêu”, bà Lui mở đầu câu chuyện về mối tình với liệt sĩ Trần Minh Tiến và cho biết, năm 1963, liệt sĩ Tiến nhập ngũ tại Trung đoàn 102, Sư đoàn 308 đóng quân tại Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

"Ngày trước, do chiến tranh, gia đình phải sơ tán đồ đạc về Quốc Oai. Tháng 8/1971, Hà Nội lụt lớn, dù có nhiều đồ đạc nhưng chồng tôi không mang về mà chỉ đem theo chiếc va li đựng những kỷ vật của liệt sỹ Tiến lên xe đạp từ Quốc Oai về TX Hà Đông. Ông Hùng có nói với tôi là các thứ khác có thể mua được riêng những kỉ vật không thể mua được, nếu ông ấy để mất thì tôi sẽ hận ông ấy hết đời!”.

Bà Vũ Thị Lui

Điều đáng nói là suốt gần 5 năm trời, từ lúc nhận lời yêu, đến khi liệt sĩ Trần Minh Tiến hy sinh vào rạng sáng 1/6/1968 tại cao điểm 202, đồi Bằng (huyện Đa Krông, tỉnh Quảng Trị), bà và người yêu gặp nhau không quá 20 lần. “Những lần lên thăm đơn vị anh ấy, tôi phải đạp xe từ Hà Đông lên Tam Đảo, có khi 1h sáng mới về đến nhà. Tuy xa và vất vả nhưng được gặp mặt người yêu là mừng lắm rồi. Đến 21/1/1968, tôi lên đơn vị thăm anh ấy và chúng tôi quyết định ngày cưới. Anh Tiến nói với tôi chờ hết tháng 3/1968, nếu không có gì thay đổi sẽ về quê tổ chức lễ cưới”, bà Lui buồn bã nói.

Vậy là sau lần đó, bà ở nhà chuẩn bị những thứ cần thiết để định ngày tổ chức lễ cưới. Thời điểm này, bà đang làm nhân viên hành chính tại nhà máy ươm tơ Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Khi hay tin, họ hàng cùng nhiều bạn bè đã đem đủ các thứ quà tặng đến chúc mừng, nhưng rồi đám cưới ấy đã không thể diễn ra.

Cuối tháng 3/1968, đơn vị của liệt sĩ Tiến trên đường đi B, khi tập kết tại TX Sơn Tây, biết cơ quan của bà đang đang sơ tán ở Sơn Đồng, huyện Hoài Đức nên anh đã đi bộ gần 20 cây số để tới thăm. “9h sáng anh đến cơ quan để được gặp tôi, nhưng anh không tiếp. Đến 2 - 3 tiếng sau, bác bảo vệ cơ quan đã lên phòng làm việc và mắng: “Anh Tiến đang trên đường đi B chiến đấu, tranh thủ về thăm em đấy”, bà Lui nghẹn ngào kể và lý giải việc không gặp mặt là vì trước đó, liệt sĩ Tiến đã không gửi thư cho bà trước khi đi B.

“Lúc đó tôi cũng chưa hiểu hết được sự khốc liệt của chiến trường B là như thế nào. Lần ấy anh Tiến đã giải thích về lý do trước khi đi B không gửi thư cho tôi và lỡ hẹn ngày cưới chỉ vì không muốn trao gánh nặng lên đôi vai tôi, vì anh là con trai cả trong gia đình, bố mẹ lại già yếu, trong khi đó từ nhỏ đến lớn tôi sống trong nhung lụa thì làm sao gánh được. Anh còn bảo tôi, nếu ông mất thì chỉ một mình chịu đựng, không muốn tôi phải khổ”, bà  Lui sụt sùi kể. 

Trước khi chia tay để cùng đơn vị vào chiến trường B, liệt sĩ Tiến đã tặng người yêu một chiếc áo bộ đội và một chiếc nhẫn có hình hai trái tim lồng vào nhau thay cho vật đính ước, được làm từ xác máy bay Mỹ rơi ở Vĩnh Phú, cùng những lá thư và cuốn nhật ký được viết vào thời gian trước khi đi B. “Tôi cũng tặng anh ấy chiếc khăn tay có hình bông hồng màu tím và tên của mình. Nhận khăn, ông ấy nói rằng, nếu tôi nhận được chiếc khăn tay do người khác trao lại, nghĩa là anh ấy đã hy sinh, tôi ở nhà hãy đi lấy chồng. Còn cuốn nhật ký và những tấm ảnh thì giữ lại để sau làm ảnh thờ”, bà Lui nhớ lại.

49 năm giữ kỷ vật, 8 năm đi tìm mộ người yêu

Chiếc mũ tai bèo của liệt sĩ Trần Minh Tiến

8 năm đi tìm mộ người yêu

Sau gần một năm, ngày 19/1/1969, khi hay tin người yêu đã hy sinh, bà Lui trở nên tuyệt vọng. Đã có lúc bà định đem cuốn nhật ký và những kỷ vật khác ra đốt, thế nhưng có điều gì đó mách bảo khiến bà không làm việc dại dột này. Suốt 49 năm qua, những kỷ vật ấy vẫn được bà nâng niu, gìn giữ. Bà Lui kể, trước khi hy sinh, liệt sĩ Trần Minh Tiến còn gửi lại đồng đội một chiếc ba lô, trong đó có quyển nhật ký được anh viết khi đang chiến đấu, một giấy sinh hoạt Đảng và vài lá thư để nhờ trao lại cho bà. Rất tiếc, đến nay chiếc ba lô vẫn bị thất lạc. “Khi biết tin anh Tiến hy sinh, tôi vẫn phải nén đau buồn để sang nhà anh đọc lại những lá thư mà ông gửi về trước đó cho bố mẹ ông nghe, cho đến khi giấy báo tử của anh Tiến về tới gia đình, lúc đó tôi không thể giấu được nữa”, bà Lui xúc động nhớ lại.

Khi con cái đã khôn lớn, từ năm 2000, bà Lui bắt đầu tìm mộ của liệt sỹ Trần Minh Tiến ở Quảng Trị. Đến năm 2008, sau hàng chục chuyến đi, bà Lui đã tìm thấy nơi liệt sỹ ngã xuống và đưa hài cốt của ông về an táng tại nghĩa trang Đường 9 tại TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Đến nay, hàng năm gia đình bà đều vào nghĩa trang Đường 9 tại TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị để thắp hương cho liệt sĩ Trần Minh Tiến.

Sau gần 50 năm, bà Lui giờ đã lên chức bà, sống hạnh phúc bên người chồng cũng là sĩ quan quân đội là ông Nguyễn Doãn Hùng, 74 tuổi. Bà cho hay, ông Hùng là người rất hiểu, chia sẻ và trân trọng câu chuyện thời thanh xuân của mình cũng như những kỷ vật của người yêu mà bà đang gìn giữ. Chính điều này khiến bà cảm thấy rất hạnh phúc.

“Vợ chồng tôi được 3 người con, 1 con gái đầu và 2 con trai, các cháu đã trưởng thành và thành đạt cả. Con gái đầu của tôi là Nguyễn Vũ Mai Hương (SN 1970), con trai thứ hai là Nguyễn Vũ Anh (SN 1971) và con út Nguyễn Vũ Hải Anh (SN 1974). Các cháu đều rất ngoan, hiếu thảo và lễ phép”, bà Lui kể và cho hay, người con đầu làm giáo viên, còn hai người con sau đều là giám đốc các hãng thời trang nổi tiếng.

Văn Huế