Thứ Năm, 12/12/2019 19:04:05 Hotline: 0901 514 799

Bạt núi làm tuyến đường sắt “made in Việt Nam” đầu tiên

01/08/2019 06:22

Đông Anh - Thái Nguyên là tuyến đường sắt đầu tiên hoàn toàn do Việt Nam tự thiết kế, xây dựng cách đây 60 năm được hoàn thành "thần tốc".

Keyword đầu tiên có dấu
Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Hữu Mai bổ nhát cuốc đầu tiên khởi công xây dựng tuyến đường sắt Đông Anh - Thái Nguyên

Cách đây 60 năm, hàng vạn TNXP và cán bộ, nhân viên đường sắt dù ăn đói, nằm rét, vẫn hoàn thành thần tốc tuyến đường sắt Đông Anh - Thái Nguyên - tuyến đường sắt đầu tiên hoàn toàn do Việt Nam tự thiết kế, xây dựng, nối Thủ đô với Việt Bắc.

Thi công “thần tốc”

Hàng ngàn cựu TNXP và cán bộ công nhân đường sắt vừa hồ hởi tham gia buổi gặp mặt kỷ niệm 60 năm thành lập công trường Thanh niên xây dựng tuyến đường sắt Đông Anh - Thái Nguyên. Họ nay đều đã vào tuổi xưa nay hiếm và ở nhiều địa phương khác nhau cùng tụ hội, tay bắt mặt mừng, cùng nhớ lại những năm tháng tuổi trẻ vô cùng vất vả nhưng rất đỗi tự hào trên công trình xây dựng tuyến đường sắt đầu tiên hoàn toàn do Việt Nam tự khảo sát, thiết kế và xây dựng.

Nhớ lại những ngày tháng gian khó đó, ông Vương Kim, Trưởng ban liên lạc TNXP công trường cho biết, đầu năm 1959, Đảng và Chính phủ quyết định xây dựng mới đường sắt từ Đông Anh lên Thái Nguyên để phục vụ cho xây dựng khu công nghiệp khai thác quặng sắt, sản xuất thép; đồng thời phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh Việt Bắc. Hơn một vạn thanh niên tình nguyện từ các tỉnh, thành đã được huy động tham gia. Cùng đó là gần 5.000 CBCNV đường sắt cũng được huy động để thi công các hạng mục công trình.

“Đây là tuyến đường sắt đầu tiên hoàn toàn do chúng ta khảo sát, thiết kế và xây dựng mới toàn bộ, không như các tuyến đường sắt khác do thực dân Pháp xây dựng, bị hư hỏng trong chiến tranh và ta chỉ khôi phục lại sau hòa bình năm 1954. Vì vậy, khối lượng công việc phải thực hiện rất lớn, trong khi anh em chủ yếu tuổi đời còn rất trẻ, lại không có kinh nghiệm”, ông Kim nói.

Chia sẻ thêm, ông Khuất Minh Trí, nguyên Chủ tịch Công đoàn Đường sắt VN cho biết, tuyến đường bắt đầu nối từ huyện lỵ Đông Anh, tỉnh Vĩnh Phúc đến Lưu Xá (Thái Nguyên), nơi trung tâm nhà máy gang thép. Đến đây, đường chia hai ngả: một đường chạy qua TX Thái Nguyên, lên mỏ than Làng Cẩm, Quán Triều, một đường vào khu mỏ sắt Trại Cau. Toàn bộ tuyến đường dài 120km (kể cả đường chính và phụ).

Để xây dựng tuyến đường, cần thực hiện một khối lượng công việc khổng lồ: Trong đó, phải đào 2,2 triệu m3 đất; đắp đất 1,7 triệu m3; Có nơi phải đào sâu xuống 10m, có chỗ phải đắp cao 12m. Khoảng 50 quả đồi được san phẳng mới đủ đất đắp nền đường xe lửa.

Về cầu sắt lớn, phải bắc 3 cầu qua sông Phù Lỗ, Đa Phúc, Trà Vườn và 20 cầu nhỏ, 50 cầu cống các loại, đều làm bằng bê tông cốt thép. Cùng đó là 8 hệ thống nhà ga được xây dựng từ Đông Anh lên tới Quán Triều, Trại Cau. Nguyên vật liệu cần đến 300 tấn sắt, 4.000 tấn xi măng, 2.000m3 gỗ, 4 triệu viên gạch, 11 vạn m3 đá dăm, 20 vạn thanh tà vẹt gỗ, cát sỏi để đủ đổ 8.000m3 bê tông làm mố và trụ các cầu. Ngày đó làm gì có nhiều máy móc. Gần như toàn bộ khối lượng công việc trên, chỉ dùng sức người là chính.

Ông Đào Thanh, nguyên Trưởng ban chỉ huy, kiêm Bí thư Đảng ủy công trình, năm nay đã 92 tuổi kể: “Đó là vào tháng 6/1959, ông được lãnh đạo Tổng cục Đường sắt giao nhiệm vụ Trưởng ban chỉ huy kiêm Bí thư Ban cán sự Đảng ủy công trường II. Sau một thời gian chuẩn bị cơ sở, điều kiện sống, lao động cho toàn bộ thanh niên tình nguyện và CBCNV đường sắt, ngày 11/7/1959, công trình được chính thức khởi công”.

Đến tháng 3/1960, công trình được Trung ương Đoàn Thanh niên ra quyết định đặt tên là “Công trường Thanh niên xây dựng đường sắt Đông Anh - Thái Nguyên. “Lúc đầu, công trường chỉ có 5 xe thùng và xe ben để vận tải hậu cần. Còn anh chị em thanh niên tình nguyện và CBCNV đường sắt dùng sức người đào, đắp, gồng gánh… là chủ yếu”, ông Thanh cho hay.

“Với sức người, sỏi đá cũng thành cơm”, công trình đã hoàn thành một cách thần tốc: Chỉ gần 14 tháng sau, ngày 30/8/1960, tuyến đường từ Đông Anh đến Lưu Xá chính thức khánh thành, thông xe vượt thời hạn 4 tháng để chuyến tàu đầu tiên từ Đông Anh về Lưu Xá lưu thông an toàn.

Và nơi khởi phát sáng kiến “giải phóng đôi vai”

Keyword đầu tiên có dấu
Ông Vương Kim kể về thời kỳ xây dựng đường sắt Đông Anh - Thái Nguyên

Ông Đỗ Đức Hậu (Long Biên, Hà Nội) cho hay, ngày đó lao động vất vả, nhưng ăn không đủ no, anh chị em phải thường xuyên mua sắn của bà con dân tộc để ăn thêm. Mùa đông rét mướt, co ro trong chiếc lán bằng phên tre, gió lùa tứ phía.

“Tháng 5/1960, mưa lũ cuốn đi mấy trăm mét đường cống Làng Giàng, công trường phải huy động lực lượng đoàn viên, thành lập thêm đội xung kích để cứu chữa. Cả công trường tấp nập, sôi động ngày đêm, loa phóng thanh phát liên tục tin những cá nhân điển hình, kiện tướng phá kỷ lục về gánh nặng, 100-120kg, rồi 150kg, cá biệt có người gánh gần 200kg”, ông Hậu kể.

Bà Phạm Thị Bích Quyền, cựu đội viên C9 Công trường II cũng có mặt ngay từ những ngày thành lập C9 (tháng 5/1959). Khi đó, mọi người tuổi đời còn rất trẻ, chỉ 17-20, có người mới 16 tuổi.

“Lúc đó, nhiều chị em không biết đào đất bằng xà beng, cuốc bằng búa chim nên không giơ lên nổi. Gánh thì mỗi bên sọt có vài xẻng đất mà vẫn phải dùng áo, dùng khăn quấn quanh đòn gánh cho đỡ đau vai. Nước mắt lưng tròng vì đau chân, đau vai, mỏi gối. Sau được học từ cách buộc sọt, dây thừng liền với đòn gánh để đổ cho nhanh, rồi đến cách dùng xà beng đứng tư thế sao để đào cho năng suất, cách dùng mìn phá đá sao cho an toàn, tiết kiệm… dần dần chị em cũng quen, năng suất lao động được nâng lên”, bà Quyền nói.

Nhưng phải đến khi toàn công trường phát động phong trào “Giải phóng đôi vai”, anh chị em mới như được “tiếp thêm nhiên liệu”, năng suất lao động nâng lên gấp hai, gấp ba lần so với trước. “Cha đẻ” của sáng kiến này là ông Đào Thanh. Ông Thanh kể, vì không có máy móc, năng suất lao động rất thấp, có những đội viên gánh 40-50kg rất khó. “Lúc đó tôi nảy ra sáng kiến làm xe đẩy bằng xe cút kít, vừa đỡ vất vả, lại chở được nhiều. Tôi bàn với anh em kĩ thuật, làm thí điểm, thành công rồi liền quyết định áp dụng rộng rãi”, ông Thanh nhớ lại.

Sau đó, Đảng ủy công trường ra hẳn nghị quyết phát động phong trào “Giải phóng đôi vai”. Việc sản xuất xe cút kít, xe cải tiến được thực hiện ngay trên công trường, sau lắp thêm bi sắt nên sức vận chuyển được nâng lên, có người điều khiển xe cút kít lên tới 170kg, còn điều khiển xe cải tiến được 200kg, chẳng khác gì vận chuyển bằng xe máy nhỏ.

Công trường II trở thành lá cờ đầu của ngành GTVT khi đó vì có phong trào “cải tiến công cụ lao động”, làm lễ bỏ quang gánh, giải phóng đôi vai đầu tiên trên miền Bắc. Phong trào đã góp phần rất lớn vào thay đổi cách vận chuyển của hàng vạn người, tăng năng suất lao động, đẩy nhanh tiến độ thi công, đưa công trình hoàn thành vượt kế hoạch.

Ghi nhận những nỗ lực, thành tích của Công trường Thanh niên xây dựng đường sắt Đông Anh - Thái Nguyên, Đảng và Nhà nước đã trao tặng Huân chương Lao động hạng Hai; nhiều tập thể, cá nhân được tặng Huân chương Lao động, bằng khen…

Đề nghị có cơ chế bù lỗ để duy trì chạy tàu dân sinh

Bà Phùng Thị Lý Hà, Phó TGĐ Công ty CP Vận tải đường sắt Hà Nội cho biết, hiện trên tuyến đường sắt Đông Anh - Thái Nguyên, doanh nghiệp này duy trì chạy hàng ngày 1 đôi tàu QT1/2 giữa ga Long Biên (Hà Nội) và ga Quán Triều (Thái Nguyên). Tuy nhiên, đoàn tàu này rất vắng khách do không cạnh tranh được với ô tô trên tuyến này.

Số liệu thống kê cho thấy, 6 tháng đầu năm 2019, tổng doanh thu cả hàng hóa và hành lý đôi tàu QT1/2 chỉ đạt hơn 791 triệu đồng, bình quân 1 đoàn tàu doanh thu được hơn 2,1 triệu đồng. Trong khi đó, chi phí phải bỏ ra để chạy một đoàn tàu hơn 12 triệu đồng. Trước đó, đầu năm 2018, Công ty CP Vận tải đường sắt Hà Nội đã cho dừng chạy tàu khách trên tuyến vì không thể gánh lỗ. Sau khi có đề nghị của tỉnh Thái Nguyên và chỉ đạo của Tổng công ty Đường sắt VN, mới tổ chức chạy lại.

Vận tải hàng hóa trên tuyến cũng chịu cảnh tương tự. Việc vận chuyển thép đầu ra và nguyên liệu, vật tư đầu vào bằng đường sắt cũng giảm mạnh. Tính chung các luồng hàng 6 tháng đầu năm 2019, tấn xếp các mặt hàng thép, than, tà vẹt chỉ đạt 13.551 tấn; tấn dỡ các mặt hàng là 28.499 tấn.

“Chúng tôi đang kiến nghị các cấp công nhận việc tổ chức chạy tàu khách này là chạy tàu an sinh để Nhà nước có cơ chế bù lỗ theo Luật Đường sắt 2017 nhưng đến nay vẫn chưa được chấp thuận”, bà Hà nói.

Thanh Thúy