Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, nhiều dấu ấn nổi bật, đột phá. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”

Về kinh tế, Nghị quyết Đại hội Đảng khóa XII đặt ra một số chỉ tiêu cụ thể như tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP bình quân 5 năm đạt 6,5 - 7%/năm. Kết thúc năm 2020, thống kê cho thấy GDP đạt 5,9%, chưa đạt mục tiêu này. Tuy nhiên, nhìn tổng thể thì đây vẫn là mức thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới, trong bối cảnh nền kinh tế phải chịu rất nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là dịch Covid-19 bùng phát trên toàn thế giới từ đầu năm 2020.

Riêng trong năm 2020, dù phải chịu thiệt hại rất lớn do dịch bệnh, thiên tai, song GDP của Việt Nam vẫn đạt 2,91%. Đây là mức tăng thấp nhất trong cả nhiệm kỳ, nhưng là một trong 10 nước có mức tăng cao nhất thế giới, một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất năm 2020. Bởi vậy, năm 2020 được đánh giá là năm thành công nhất trong cả nhiệm kỳ.

Nghị quyết Đại hội XII cũng đưa ra chỉ tiêu đến năm 2020, GDP bình quân đầu người khoảng 3.200 - 3.500 USD. Dù chỉ tiêu này chưa hoàn thành, song với GDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt khoảng 2.750 USD/người, mức này cũng gấp khoảng 1,3 lần so với năm 2015.

Tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng từ mức 82,6% năm 2015 lên khoảng trên 85% năm 2020, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra (85%).

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt gần 9,2 triệu tỉ đồng, bằng 33,5% GDP, đạt mục tiêu bình quân 5 năm (32 - 34%).

Bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 - 2019 đạt 3,5% GDP, giảm so với giai đoạn 2011 - 2015 (5,4% GDP), dự kiến năm 2020 khoảng 4,99% GDP (mục tiêu còn khoảng 4% GDP). Tỉ trọng vốn đầu tư nhà nước giảm từ mức 38% năm 2015 xuống còn khoảng 32,9% năm 2020.

Về xã hội, tỉ trọng lao động nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong tổng số lao động đến năm 2020 khoảng 34%, giảm mạnh so với năm 2015 (44%), vượt mục tiêu đề ra (dưới 40%). Tỉ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 64,5% năm 2020, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ dự báo đến năm 2020 đạt 24,5%, tăng so với năm 2015 (19,9%, gần đạt mục tiêu đề ra là 25%).

Tỉ lệ thất nghiệp tại khu vực thành thị giảm từ mức 3,37% năm 2015 xuống còn khoảng 3,1% năm 2019 (mục tiêu Nghị quyết Đại hội XII đặt ra là dưới 4%). Tuy nhiên, do tác động của dịch Covid-19, tỉ lệ thất nghiệp năm 2020 gia tăng, ước khoảng 4,39%.

Số giường bệnh trên 1 vạn dân ước đạt 28 giường vào năm 2020, vượt mục tiêu đề ra (26,5). Tỉ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế dự báo đến năm 2020 đạt khoảng 90,7%, tăng mạnh so với năm 2015 (76,5%), vượt mục tiêu đề ra (80%).

Tỉ lệ hộ nghèo đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống còn 3,75% cuối năm 2019 và giảm còn dưới 3% vào cuối năm 2020, bình quân giai đoạn 2016 - 2020 giảm trên 1,4%/năm (mục tiêu 1,0 - 1,5%/năm).

Về môi trường, tỉ lệ người dân đô thị được cung cấp nước sạch đến năm 2020 đạt khoảng 90% (mục tiêu 95%), dân số nông thôn sử dụng nguồn nước ăn uống hợp vệ sinh ước đạt 90,2%, vượt mục tiêu là 90%. Tỉ lệ che phủ rừng ước đến năm 2020 khoảng 42%, đạt mục tiêu đề ra.

Đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã hội 5 năm giai đoạn 2016- 2020, dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng XIII nêu rõ: các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 2016 - 2020 tại Đại hội Đảng lần thứ XII đã được thực hiện đồng bộ, hiệu quả và đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấn nổi bật.

Theo Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế-xã hội năm 2020 và 5 năm 2016-2020, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016-2019 đạt khá cao, bình quân 6,8%/năm. Cơ cấu nền kinh tế chuyển đổi mạnh mẽ. Trong đó, kinh tế tư nhân dần trở thành một động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp đến 40% tổng GDP. Việt Nam thuộc nhóm các nước tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới, kinh tế vĩ mô duy trì ổn định, cải cách thể chế được đẩy mạnh, tổng số doanh nghiệp tăng gấp 1,5 lần...

Trong 5 năm qua, nhất là năm 2020, việc thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số vào nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ. Đây được xem là động lực để giúp nền kinh tế tăng trưởng, năng suất lao động cao.

Giai đoạn 2016 – 2020, kim ngạch xuất khẩu tăng từ 176,58 tỷ USD năm 2016 lên gần 281,5 tỷ USD năm 2020. Tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn 2016 -2020 đạt trung bình khoảng 11,7%/năm, cao hơn mục tiêu 10% đề ra tại Văn kiện Đại XII của Đảng.

Đáng chú ý, chất lượng tăng trưởng được cải thiện; năng suất lao động tăng bình quân 5,8%/năm, cao hơn nhiều so với giai đoạn 2011-2015. Nợ công giảm từ 63,7% GDP đầu nhiệm kỳ xuống còn 55% năm 2019, dưới ngưỡng an toàn do Quốc hội quy định. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2020 được xếp thứ 42/131 nước, đứng đầu nhóm 29 quốc gia có cùng mức thu nhập.

Phân tích kết quả phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, dù vẫn còn có những mặt tồn tại, nhưng công tâm đánh giá, 5 năm qua là 5 năm thành công về phát triển kinh tế của Việt Nam.

Đây là thành tựu chung của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng.

Dấu ấn không thể không nhắc đến trong nhiệm kỳ qua đó là thành tựu của quá trình hội nhập quốc tế.

Đến năm 2020, Việt Nam đã ký 15 Hiệp định FTA (năm 2020 Việt Nam đã phê chuẩn và triển khai có hiệu quả EVFTA; tham gia ký Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và ký FTA Việt Nam - Anh), đang đàm phán 2 FTA; có 16 đối tác chiến lược, 11 đối tác chiến lược toàn diện; tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực; có 71 nước đã công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường...

Hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam phát triển mạnh, gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu. Từ một nước nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cân bằng xuất nhập khẩu, thậm chí là xuất siêu.

Việc có quan hệ FTA với các nền kinh tế lớn và phát triển tại các khu vực địa lý khác nhau đã giúp Việt Nam đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại và có được cơ cấu thị trường hợp lý hơn, không quá phụ thuộc vào một khu vực thị trường nào. Đây là minh chứng cho các nhà đầu tư nước ngoài nhìn thấy sự ổn định cũng như tiềm năng phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Uy tín, vai trò, vị thế của Việt Nam, vì thế cũng tăng lên rõ rệt trên trường quốc tế. Các hiệp định thương mại đi vào thực thi đã giống như các “tuyến cao tốc” rộng mở, nối gần hơn doanh nghiệp Việt với thế giới.

Theo Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP), Việt Nam đã tạo ra một “câu chuyện huyền thoại” trong công cuộc giảm nghèo với chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) năm 2019 là 0,63, xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước, tức nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số Phát triển nguồn nhân lực (HDI) cao nhất trên thế giới.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đánh giá, năm 2020 Việt Nam có thể trở thành nền kinh tế đứng thứ 4 ASEAN...

Việt Nam được xếp thứ 8 trong số các nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu tư năm 2019, tăng 15 bậc so với năm 2018; năng lực cạnh tranh của Việt Nam được Diễn đàn Kinh tế thế giới xếp thứ 67/141 quốc gia, vùng lãnh thổ, tăng 10 bậc so với năm 2018.

Cũng trong 5 năm qua, chúng ta đã đảm nhiệm thành công nhiều cương vị quan trọng tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế, khu vực, nhất là vai trò nước chủ nhà APEC 2017, Chủ tịch ASEAN 2020, AIPA 41, Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tổ chức thành công Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều lần 2. Thực hiện tốt công tác thông tin đối ngoại, bảo hộ công dân; chủ động hỗ trợ, viện trợ, hợp tác quốc tế trong phòng chống đại dịch Covid-19....

Trong bối cảnh chung khó khăn của kinh tế thế giới năm 2020 do đại dịch Covid-19, Việt Nam vẫn nổi lên như một điểm sáng đáng ghi nhận và tự hào.

Những kết quả, thành tựu đạt được trong 5 năm qua có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhưng quan trọng nhất là có sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp uỷ, tổ chức đảng trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, xử lý kịp thời, có hiệu quả nhiều vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn.

Dấu ấn lãnh đạo kinh tế của Đảng trong nhiệm kỳ này được thể hiện rõ nét thông qua các cương lĩnh, chiến lược và văn kiện chính thức Đại hội Đảng toàn quốc khóa XII, cũng như một loạt quyết sách quan trọng khác được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị ban hành.

Cụ thể là: Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết này có thể coi là đột phá trong tư duy, giúp kinh tế tư nhân phát triển lành mạnh, hiệu quả, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; Nghị quyết số 11-NQ/TW hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành trung ương khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư...

Các Nghị quyết nói trên được ban hành phù hợp với từng thời điểm quan trọng của kinh tế đất nước. Qua đó nhằm tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, trên nền tảng đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ và chủ động hội nhập quốc tế.

Trong nhiệm kỳ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã nhiều lần tham dự Hội nghị Chính phủ với các địa phương. Tại những Hội nghị này, người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Quốc hội đều đưa ra những định hướng và đặt ra nhiều nhiệm vụ quan trọng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt đối với công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Trong các ưu tiên của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được đặt lên là hàng đầu. Với chủ trương xây dựng Chính phủ kiến tạo, phát triển, phục vụ người dân và doanh nghiệp, tập trung tháo gỡ vướng mắc về thể chế, thúc đẩy hoạt động đầu tư, kinh doanh cho khởi nghiệp sáng tạo, Chính phủ, và người đứng đầu là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã xác định: Đây là nhiệm vụ trọng tâm để thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, hoàn thiện các loại thị trường.

Trong nhiệm kỳ, cùng với việc Đảng đã ban hành Nghị quyết về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, Chính phủ đã phát động thành công “đợt sóng” cải cách hành chính lớn. Nhờ vậy, Việt Nam đã tăng 20 bậc về môi trường kinh doanh, tăng 10 bậc về năng lực cạnh tranh theo các bảng xếp hạng toàn cầu. Khoảng cách điểm số về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với nhóm các nước dẫn dầu ASEAN đang thu hẹp lại.

Phương châm hành động xây dựng “Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân” đã mang lại thành quả là kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, chất lượng tăng trưởng được nâng lên, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện.

Những kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII có ý nghĩa quan trọng khi Việt Nam chuẩn bị bước vào Kế hoạch 2021-2026 và Chiến lược mới 2021-2030, hướng tới sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững.