Thứ Ba, 10/12/2019 07:17:12 Hotline: 0901 514 799

Dự thảo Luật Lao động sửa đổi bị chê lạc hậu, góc nhìn hạn hẹp!

19/09/2019 08:51

Theo các chuyên gia, Dự thảo Luật Lao động sửa đổi có tư duy bảo thủ, lạc hậu, không tạo ra sự công bằng, xói mòn lợi thế của VN.

Keyword đầu tiên có dấu
TS Nguyễn Đình Cung cho rằng người lao động không được hưởng lợi từ Dự thảo Luật Lao động mới. Ảnh minh họa

Người hưởng lợi nhất là thanh tra Bộ Lao động!

Đây là khẳng định của TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế TƯ (CIEM) tại Hội thảo “Dự thảo Bộ Luật Lao động (sửa đổi): Những tác động bất lợi và kiến nghị” ngày 18/9. Ông Cung nói: “Tôi có cảm giác Luật Lao động nhìn quá hẹp, soi vào số người lao động trong doanh nghiệp. Bảo vệ người lao động phải bảo vệ, sử dụng tốt nhất lực lượng lao động cả nước chứ không phải nhìn vào lao động trong doanh nghiệp”.

Bà Trần Thị Lan Anh, Phó Tổng thư ký VCCI, Giám đốc Văn phòng Giới sử dụng lao động:

Có 8 vấn đề lớn cần được xem xét sửa đổi, bổ sung trong dự thảo. Trong đó, đáng chú ý là thời gian làm thêm và cách tính thời gian làm thêm giờ của lao động; vấn đề tiền lương.

Bộ Luật Lao động hiện hành đang quy định tổng số giờ làm thêm tối đa trong năm của Việt Nam bị hạn chế ở mức 200 giờ/năm. Mức này thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia đang cạnh tranh lao động với Việt Nam và chưa phù hợp với những ngành nghề sản xuất trực tiếp, do đó hạn chế năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, do năng suất lao động của người lao động Việt Nam còn thấp, tỷ trọng các ngành nghề thâm dụng lao động có giá trị gia tăng thấp vẫn còn lớn nên nhu cầu mở rộng khung thỏa thuận làm thêm giờ là nhu cầu thực tế, để góp phần tăng thu nhập cho người lao động.

Do đó, không nên quy định giới hạn giờ làm thêm theo tuần, theo tháng, chỉ quy định theo năm, cụ thể là số giờ thêm của người lao động không quá 500 giờ/năm, trừ một số ngành nghề, công việc được làm thêm giờ không quá 600 giờ/năm.

“Tăng trưởng phải tạo nhiều việc làm cho người lao động, tận dụng tối đa số lao động hiện có. Phải nhìn tổng thể 40 triệu người lao động chứ không phải nhìn nhóm 10 triệu lao động ăn lương”, ông Cung chỉ rõ về cách thức tiếp cận và mục tiêu xây dựng mà Dự thảo luật cần hướng tới.

"Với cách thức mà ban soạn thảo đang làm hiện nay, “người hưởng nhiều nhất là thanh tra Bộ Lao động vì luật kiểu này thì kiểu gì doanh nghiệp cũng vi phạm và thanh tra đến là sẽ tìm ra”, ông Cung nói và cho rằng như vậy tất cả các đối tượng liên quan dù chúng ta có bảo vệ, mà ở đây là người lao động, thì họ cũng không được hưởng lợi.

Bộ luật là một "bước lùi"

TS Vũ Thành Tự Anh, Đại học Fulbright Việt Nam thậm chí còn thẳng thắn hơn cả Viện trưởng CIEM khi nhận định: "Nếu nhìn bộ Luật Lao động từ góc độ chính sách thì không thấy dáng dấp chính sách tư duy mạch lạc, đánh giá cẩn trọng và phù hợp ở xu hướng kinh tế mới. Bộ luật này tư duy bảo thủ, lạc hậu, độ lùi so với bộ luật 2012”.

Soi vào từng điều khoản, ông Thành cho biết không thấy rõ các mục tiêu. “Người đệ trình bộ luật đánh giá chính sách như thế nào? Nhìn cách thiết kế, từng điều khoản cụ thể thì đánh giá sơ sài, không phản ánh đời sống kinh tế thực sự của doanh nghiệp”, ông Thành nhận xét.

“Nếu dựa vào mối quan hệ giữa giới chủ và người lao động thì cách nhìn nhận này lạc hậu, phiến diện. Còn nhìn từ góc độ tổng thể nền kinh tế thì luật có giúp năng lực kinh tế tốt hơn, tạo hơn các động lực cho người lao động tốt hơn, giới chủ có sử dụng hiệu quả không?”, ông Thành đặt câu hỏi và đề nghị ban soạn thảo đừng nhìn góc độ đối kháng giữa hai nhóm giới chủ và người lao động.

Ông Thành phân tích, để Việt Nam được công nhận nền kinh tế thị trường thì trong đó thị trường lao động là đầu vào cơ bản của nền kinh tế nhưng chúng ta lại can thiệp quá sâu, quá chi tiết vào bộ Luật Lao động. Chính điều này đã làm mất đi tính thị trường của thị trường lao động. Thậm chí nhiều phương diện của luật mới còn đi ngược lại chủ trương so với bộ Luật Lao động 2012.

Ông Thành cho rằng với cách tiếp cận ở góc độ sợ người lao động bị bóc lột quá mức, làm quá nhiều giờ làm việc đã thể hiện sự can thiệp sâu. Thay vào đó, điều quan trọng là làm sao khế ước lao động được thực thi chứ không phải nhà nước ngồi nghĩ thay người lao động và giới chủ về giờ làm thêm hay tiền lương.

Kinh tế Việt Nam có lợi thế từ lao động giá rẻ với quy mô lớn. Nếu tạo ra một bộ Luật Lao động mà không tạo ra thị trường lao động khi đưa ra giới hạn tiền lương, giờ làm thêm… thậm chí sẽ gây ra thiểu dụng lao động, thất nghiệp cơ cấu. Bộ Luật Lao động thậm chí có thể tư duy ngược từ tiền lương luỹ kế, người lao động có thể lười biếng hơn. Bộ Luật lao động càng chặt, giới chủ và người lao động sẽ tìm cách lách và gây ra chi phí không đáng có cho nền kinh tế”, ông Thành phân tích.

Ông Thành còn cho rằng dường như bộ luật thu hẹp đối tượng điều chỉnh nhưng không tạo ra sự công bằng và bộ luật này nếu được thông qua sẽ tiếp tục xói mòn lợi thế so sánh của Việt Nam.

C.Sơn