"Mạng nhện" của Việt Minh trong chiến thắng Điện Biên Phủ

02/05/2014 08:02

Tác giả John Nordell cho rằng, hòn đá tảng để Navarre quyết định chiếm đóng lâu dài Điện Biên Phủ là khả năng tiếp tế của Việt Minh ở chiến trường này hạn chế.

Máy bay không vận Mỹ hỗ trợ Pháp trong vòng vây cao xạ quân ta ở Điện Biên Phủ


“Dự án không tưởng”


Một tuần sau khi chiếm Điện Biên (28/11/1953), Navarre bay về Hà Nội họp. Tổng chỉ huy Pháp cho rằng, năng lực cung ứng của Việt Minh hiện đang được Bộ chỉ huy Pháp ở Bắc Bộ đánh giá quá mức. “Việt Minh là một đội quân hành tiến và tiếp tế đều bằng đôi chân”. Giả sử cuộc dồn đống 5 vạn quân (quanh Điện Biên) cứ tiếp diễn, để đảm bảo sẽ cần tới 5 vạn dân công mang vác đồ tiếp tế. Bộ chỉ huy Pháp trù tính, những nỗ lực sắp xếp và tập kết còn phải được lo liệu trong một thời gian rất khẩn trương. Vậy nếu cuộc tổng công kích Điện Biên Phủ sắp xảy ra, Bộ chỉ huy viễn chinh Pháp tin chắc rằng sức ép lên khâu đảm bảo hậu cần sẽ căng tới mức mà Việt Minh chỉ kham được, không quá, dăm bảy ngày.


Trong cuộc họp ngày 28/11/1953 của Bộ chỉ huy Pháp, không chỉ các sĩ quan tùy tùng của Navarre, mà cả Bộ chỉ huy Pháp ở Bắc Bộ cũng nghiêng sang hướng cho rằng việc tiếp tế cho 4 đại đoàn ở vùng Tây Bắc của quân đội Việt Minh là một “dự án không tưởng”, . 


Trong lệnh của Tổng chỉ huy ra ngày 3/12/1953, Navarre chỉ rõ, vì tác chiến quá xa hậu cứ, cuộc tiến công Điện Biên Phủ của Việt Minh nếu xảy ra, tất phải xảy ra các giai đoạn dài ngày: Hành quân áp sát tập đoàn cứ điểm; trinh sát – chuẩn bị chiến trường; tiến công sẽ thất bại do không cung ứng được hậu cần (thiếu ăn). 


Sau ngày thất trận, trong hồi ký của mình (Đông Dương hấp hối/L’Agonie de l’Indochine), xuất bản lần đầu năm 1956, Navarre lý giải “... Nếu khoảng cách giữa Điện Biên và Đồng bằng Bắc Bộ gây trở ngại cho chúng ta về phương diện (tiếp tế) đường không, nó cũng gây trở ngại đúng như vậy cho Việt Minh, xét về đảm bảo hậu cần. Điện Biên Phủ nằm cách đồng bằng sông Hồng 200km, cách (điểm tiếp tế quá cảnh tại) biên giới với Trung Quốc 300km. Những con đường nối Điện Biên với các cửa khẩu này hoặc không tồn tại, đã hoặc bị phá hủy. Để tiến công Điện Biên Phủ, các quân đoàn tác chiến của Việt Minh sẽ khó có thể được tiếp tế, dù là từ các đoàn xe tải (convoys), hay nhờ vào dân công – một năng lực (mang vác) hạn chế”.
 

Các tuyến vận tải phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ (dịch bản đồ từ Hồi ký ảnh Navarre)


“Mạng nhện” những con đường mới 

John Nordell trích dẫn mệnh lệnh 6/12/1953 của Tướng Giáp để minh họa phương án khắc phục khó khăn về rừng núi hiểm trở, không có đường xá của chiến trường Điện Biên Phủ.


Nordell viết tiếp, hiệu quả của mệnh lệnh này là kiến tạo năng lực động viên hàng vạn dân công để sửa các đường giao thông đang sử dụng và xây dựng một “mạng nhện” những con đường mới, giúp hệ thống hậu cần của Việt Minh đạt tới một độ tinh vi cao hơn, cho phép xe chạy trên các đường mòn trong rừng mà trước đó được cho là địa hình không thể vượt qua. Nhờ  “mạng nhện” này, một số lượng lớn trang bị và hàng tiếp tế đã thẩm thấu vào xứ Thái (Lai Châu) và tăng cường được năng lực tiếp tế hàng viện trợ từ phe đồng minh của Việt Minh, điều mà Navarre công khai thú nhận (sau trận Điện Biên Phủ) yếu tố làm sụp đổ kể hoạch của ông ta.
 

Nhờ huy động được 7,5 vạn nhân công và một tuyến vận tải mới mở cho xe cơ giới, từ Lạng Sơn và Cao Bằng, kéo dài tới 350km lên tới giáp Điện Biên Phủ, Việt Minh đã  “dựng đứng” khối nhân vật lực khổng lồ quanh Điện Biên Phủ, làm nền cho một chiến thắng trên chiến trường xa hậu cứ, Navarre lý giải. 

Sau khi các kho ở Bắc đồng bằng Bắc Bộ đã tích đủ hàng, xe chở hàng có thể từ Thái Nguyên qua Tuyên Quang lên Yên Bái. Từ đó, theo các con đường hiểm trở, xuyên về phía Tây Nam đi tới được đường 41 (QL6 ngày nay), tại Sơn La. Với việc quân Pháp mất Tuần Giáo (9/12/1953) mà không phản kích lấy lại được, tiếp tế hậu cần cơ giới của Việt Minh tìm được đường tiếp cận Điện Biên Phủ, Nordell kết luận.

Tin tức về năng lực vận chuyển của Việt Minh không ngừng nâng cao cũng liên tục bay về, theo hồi ký Navarre. Cảm nhận mạng đường tiếp tế còn đang phôi thai của Việt Minh là mối đe dọa ngày càng tăng đối với tập đoàn cứ điểm.


Navarre đưa ra khái niệm “đường được kiến thiết từ số không”. Những con đường xây mới tại những địa hình hiểm trở tới mức trước đó chưa từng có đường mòn chạy qua, tổng chiều dài lên tới khoảng 100 km.


Theo Navarre, chạy qua miền Trung du tới từ Yên Bái nơi hội với một con đường nữa cũng có thể sử dùng làm đường tiếp tế. Đoạn này chính là tuyến Thanh Hóa – Hòa Bình – Cò Nòi, nơi nó hội với tuyến chính. Từ đây tuyến vận tải chính tiếp tục men theo bờ sông Hồng, lên hướng Lào Cai. Tiếp đó là đoạn đường làm “từ số không”, vươn ra gặp Tỉnh lộ 41 (Hòa Bình – Lai Châu) gần Nà Sản và lên tới được Tuần Giáo, nơi một căn cứ hậu cần quan trọng đã được đưa vào hoạt động. Căn cứ này được thiết kế để phục vụ quân đoàn Việt Minh đang bao vây Điện Biên Phủ. 

“Cú thụi liên tiếp hai quả đấm” 


Một tuyến giao thông phụ từ phía Bắc xuống, cũng tới Tuần Giáo, được Navarre mô tả như sau: “Nó cũng bắt đầu từ vùng biên giáp với Trung Quốc (ở phía Tây Bắc), rồi qua bản Nậm Cúm và Lai Châu, nhưng đi trên những đường mòn chất lượng còn xấu và các ngầm thác khó qua, nên cũng không được sử dụng nhiều, mà dùng chủ yếu để chở gạo”.


Berdnard Fall, trong Địa ngục ở nơi chật hẹp (Hell in very small place), cho rằng: “Tuần Giáo (bị Đại đoàn 316 chiếm đầu tháng 12/1953) trở thành trạm trung chuyển chính của cộng sản cận Điện Biên Phủ; Rồi Lai Châu, cùng kỳ bị rơi vào tay Việt Minh, cũng trở thành trạm đầu cuối của đường tiếp tế ngắn nhất cho chiến trường (Điện Biên Phủ) kể từ Trung Quốc”. 


Việc Tướng Giáp sớm tìm cách khai thác thế hiểm yếu của thị xã Lai Châu, một diễn biến dẫn đến Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, đã nổi lên trong đánh giá của John Keegan. Cho rằng lợi thế của Việt Minh gia tăng khi Pháp phải bỏ Lai Châu, trong sách Điện Biên Phủ (Dien Bien Phu, xuất bản 1974), Keegan viết: “Việt Minh ngày một mạnh lên trên vùng thượng du Tây Bắc, nhờ chiếm căn cứ tiền đồn Tuần Giáo và nhờ nỗ lực lên giây cót một tuyến đường cho hàng tiếp tế từ biên giới với Trung Quốc… Công binh của Tướng Giáp, với sự hỗ trợ từ Trung Quốc, đã kiến thiết một con đường chịu được khắc nghiệt của khí hậu lên tới tận tỉnh Lai Châu (thủ phủ của xứ Thái), nơi ông ta có thể cho chạy một đoàn xe tải quy mô đáng kể”.


Nordell đưa ra một kết luận: “Cú thụi liên tiếp hai quả đấm (one – two punch) giúp giành được Lai Châu và Tuần Giáo đã tạo một ưu thế ghê gớm về tiếp tế hậu cần và một thắng lợi chính yếu, tạo đà cho chiến dịch của họ ở Điện Biên Phủ. Đối với quân Pháp, việc mất hai căn cứ này là một bước thụt lùi ghê gớm về quân sự”.


Trong sách Giải phóng Đông Dương thuộc Pháp (The Emancipation of French Indochina), Donald Lancaster đánh giá tầm quan trọng của mạng đường tiếp tế như sau: “Việc kiến tạo tuyến đường này, vượt qua một khoảng cách tới 220 dặm (350km), cho phép vận chuyển hàng tiếp tế, hoặc bằng xe thồ, hoặc bằng các xe vận tải Molotova tới một điểm gần các vị trí đóng quân của Việt Minh ở Điện Biên Phủ”.


Lê Đỗ Huy (Dịch)


(*): The Undetected Enemy: French and American Miscalculations at Dien Bien Phu, 1953; NXB Texas A & M University Military History Series, 1995).