Phấn đấu đến năm 2050, cả nước có 9.000 km đường cao tốc

17/03/2021 16:53

Quy hoạch kết cấu hạ tầng đường bộ đặt mục tiêu đến năm đến năm 2050, cả nước có hơn 9.000 km đường cao tốc.

phấn đấu đến năm 2050, cả nước có 9.000 km đường cao tốc

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể chủ trì buổi làm việc

Sáng nay (17/3), Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể tiếp tục chủ trì buổi họp bàn Quy hoạch kết cấu hạ tầng đường bộ.

Thiếu kết nối giữa các phương thức vận tải

Báo cáo tại buổi làm việc, đại diện Tư vấn lập quy hoạch cho biết, so với Quy hoạch 356 về phát triển GTVT đường bộ, khối lượng vận chuyển, luân chuyển hàng hóa đạt 87%, luân chuyển hành khách đạt 105%, luân chuyển hàng hóa đạt 100% sơ với quy hoạch.

Về kết cấu hạ tầng, hệ thống đường cao tốc đã hoàn thiện, đưa vào khai thác 1.046 km, đang thi công hơn 900 km, thực hiện được trên 90% so với quy hoạch. Một số dự án theo quy hoạch chưa thực hiện được như cao tốc Bắc - Nam phía Đông, cao tốc phía Tây đường Hồ Chí Minh, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, cao tốc kết nối đến cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn), các tuyến đường vành đai của Hà Nội và TP.HCM.

Hệ thống quốc lộ cơ bản đã đạt được cấp đường theo quy hoạch. Trong đó đã hoàn thành mở rộng QL1, mở rộng đường ven biển.

Đánh giá về kết nối đường bộ với các phương thức vận tải khác, đại diện liên danh tư vấn cho biết, tính kết nối giữa hệ thống đường bộ quốc gia với các phương thức vận tải khác chưa đáp ứng yêu cầu. Một số cảng biển đặc biệt như cảng Lạch Huyện và Cái Mép - Thị Vải chưa có cao tốc kết nối theo quy hoạch. Các cảng, trung tâm đầu mối khác chỉ một số tuyến quốc lộ kết nối và đa phần là tuyến nội thị có quy mô và năng lực chưa đáp ứng yêu cầu. Đối với các phương thức vận tải khác như đường sắt, hàng không cũng tương tự.

Về nguồn lực đầu tư, đơn vị tư vấn cho biết giai đoạn 2011 - 2020 nhu cầu của ngành giao thông là 1,4 triệu tỷ đồng, trong khi đó thực tế huy động chỉ đạt khoảng 980 triệu tỷ đồng. Đối với đường bộ, giai đoạn huy động được nguồn vốn lớn nhất là giai đoạn 2011 - 2015 đạt khoảng gần 380 nghìn tỷ đồng. Giai đoạn 2016 - 2020 chỉ huy động được 185 nghìn tỷ đồng và cơ cấu nguồn vốn huy động chưa đáp ứng yêu cầu, nguồn vốn ngoài ngân sách có xu hướng giảm. Đây là một trong những khó khăn để thu hút nguồn vốn ngoài ngân sách vào đường bộ.

"Trên cơ sở thực tiễn của ngành đường bộ, Tư vấn đặt mục tiêu đến năm 2030 tập trung xây dựng các tuyến cao tốc liên kết vùng, kết nối với cảng biển, các trung tâm sân bay lớn, phấn đấu đến năm 2030 có 5.000 km đường cao tốc và đến năm 2050 có hơn 9.000 km đường cao tốc. Đối với quốc lộ tập trung nâng cấp, cải tạo mặt đường, tăng cường hệ thống ATGT đối với các trung tâm kinh tế, đầu mối giao thông chưa có cao tốc song hành" đơn vị tư vấn cho biết.

Ông Nguyễn Văn Huyện, Tổng cục trưởng Tổng cục Đường bộ VN cho biết, trên cơ sở đánh giá khả năng kết nối, thị trường vận tải và dự báo trong tương lai để quy hoạch. Việc tăng lên 32.000 km đường quốc lộ và 10 tuyến cao tốc để đảm bảo tính kết nối ngang và kết nối dọc. Việc kết nối với 4 lĩnh vực khác cũng được rà soát rất kỹ.

phấn đấu đến năm 2050, cả nước có 9.000 km đường cao tốc

Mục tiêu có 2.500 km đường cao tốc vào năm 2020 chưa đạt được - Ảnh minh họa

Cần có cơ chế đột phá

Kết luận cuộc họp, Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể đánh giá, tuy còn nhiều vấn đề phải bổ sung nhưng quy hoạch đã có đột phá thể hiện ở việc kết nối đường bộ với các loại hình khác, hay mạnh dạn đặt mục tiêu đến năm 2050 có hơn 9.000 km đường cao tốc.

Đối với dự báo lưu lượng vận tải, Bộ trưởng cho biết chủ trương là giảm thị phần vận tải đường bộ, tăng thị phần vận tải đường thủy và đường biển, phát triển vận tải biển thay thế vận tải đường bộ. Bên cạnh đó tăng thị phần vận tải đường sắt, hàng không. Bộ trưởng yêu cầu tính toán, cơ cấu điều chỉnh cưỡng bức lại thị phần vận tải, trong đó quy hoạch giữa các lĩnh vực phải có sự thống nhất.

Cho rằng quy hoạch đã có đánh giá về kế hoạch đầu tư công đến năm 2030, Bộ trưởng yêu cầu có sự điều chỉnh đầu tư công tăng đầu tư công cho một số lĩnh vực khác, giảm đầu tư công cho đường bộ, đáp ứng được thị phần vận tải giữa các lĩnh vực. Cần có định hướng rõ ràng, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, vượt quá nguồn vốn. Cần có sự đánh giá lại cả 5 lĩnh vực để định hướng đầu tư công, điều chỉnh cưỡng bức lại thị phần vận tải.

Liên quan đến kết nối giao thông đường bộ với 4 lĩnh vực còn lại, Bộ trưởng yêu cầu phải đánh giá đậm nét việc kết nối, xác định được các nút thắt, các điểm nghẽn với các công trình dự án trọng điểm quốc gia như cảng hàng không, trung tâm đường thủy nội địa, ga đường sắt. “Cục trưởng các Cục chuyên ngành khác nghiên cứu quy hoạch của đường bộ xem xét kết nối đường bộ với lĩnh vực mình phụ trách, cần điều chỉnh, bổ sung gì để đảm bảo tính thống nhất”, Bộ trưởng yêu cầu.

Về đánh giá hiện trạng thực hiện quy hoạch vừa qua, Bộ trưởng yêu cầu cần đánh giá đúng thực trạng, những cái được, chưa được và có đánh giá rõ nguyên nhân. Lấy ví dụ từ việc không đạt được mục tiêu theo quy hoạch đến năm 2020 có 2.500 km đường cao tốc, Bộ trưởng cho rằng việc triển khai kế hoạch đầu tư công còn chậm, có nguyên nhân từ việc chậm GPMB.

Đề cập đến cơ chế phát triển hạ tầng đường cao tốc thời gian tới, Bộ trưởng cho rằng, rút bài học kinh nghiệm GPMB vừa qua, cần đề xuất cơ chế mới có tính đột phá. Về mục tiêu đến năm 2030 có 5.000 km đường cao tốc, Bộ trưởng gợi ý cần nêu cách thức triển khai, lựa chọn danh mục đầu tư, trình Chính phủ cho phép giải phóng mặt bằng sạch toàn bộ trước, sau đó lập dự án đầu tư toàn bộ 5.000 km đường cao tốc.

“Đánh giá thực trạng phải rõ, vì sao không đạt được kế hoạch, nguyên nhân là gì, bài học ra sao. Cả 5 lĩnh vực hàng hải, hàng không, đường bộ, đường sắt, đường thuỷ cần nhìn nhận rõ vấn đề, tìm ra cách giải quyết để tháo các nút thắt, đột phá phát triển hạ tầng”, Bộ trưởng chỉ đạo.

Đối với quốc lộ, Bộ trưởng yêu cầu các tuyến tránh đô thị phải nâng cấp đúng chuẩn và bàn giao đường trong đô thị cho địa phương. Quốc lộ đi qua đô thị phải xây dựng đúng quy hoạch, có đường gom hai bên và phải được quản lý chặt chẽ, tránh tình trạng phố hóa đường quốc lộ và phải làm thêm đường tránh thứ 2, thứ 3.

Trần Duy