Ưu tiên lớn đầu tư hạ tầng giao thông đồng bằng sông Cửu Long

21/10/2021 14:56

Bộ GTVT tập trung giải pháp đầu tư hạ tầng giao thông đồng bằng sông Cửu Long theo Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế.

Sáng nay (21/10), Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể đã chủ trì Hội nghị tổng kết các nhiệm vụ của ngành GTVT thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 20/1/2003 của Bộ Chính trị khóa IX và Kết luận số 28-KL/TW ngày 14/8/2012 của Bộ Chính trị khóa XI về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển KT-XH và bảo đảm QP-AN vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) các thời kỳ 2001 - 2010 và 2011 - 2020.

Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tuyến với sự tham gia của đại diện các bộ, ngành trung ương và 13 tỉnh, thành phố thuộc khu vực ĐBSCL.

Cần giải pháp đột phá, cơ chế đặc thù cho ĐBSCL

Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể cho biết, ĐBSCL có gần 20 triệu người dân sinh sống, thiên nhiên ưu đãi, rất phù hợp để phát triển nông nghiệp nhưng tốc độ phát triển không đạt kỳ vọng. Vì vậy, Nghị quyết 21 được Bộ Chính trị ban hành hết sức kịp thời và được triển khai đồng bộ cho cả 13 tỉnh ĐBSCL, trong đó ngành GTVT tham mưu để hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế vùng tốt hơn.

Ưu tiên lớn đầu tư hạ tầng giao thông đồng bằng sông Cửu Long 1

Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể nhấn mạnh, cần có giải pháp mang tính đột phá trong đầu tư hạ tầng giao thông, tạo thuận lợi cho vùng ĐBSCL phát triển

Bộ trưởng yêu cầu đại biểu tham gia Hội nghị cần phải đánh giá rõ, thẳng thắn những việc đã làm được, những công trình, dự án nào chưa làm được theo Nghị quyết 21 để từ đó định hướng ưu tiên đầu tư thời gian tới.

“Cần căn cứ danh mục đầu tư công trung hạn 2021-2025, danh mục dự án trọng điểm theo các quy hoạch chuyên ngành 5 lĩnh vực giao thông liên quan đến vùng ĐBSCL, lên danh mục tất cả các dự án ưu tiên", Bộ trưởng nói và nhấn mạnh: Ngoài nguồn vốn ngân sách Nhà nước, cần có giải pháp mang tính chất đột xuất như phát hành trái phiếu, xây dựng cơ chế đặc thù cho từng dự án...

Thống nhất với quan điểm của Bộ trưởng Bộ GTVT, lãnh đạo các tỉnh, thành, đại diện các bộ ngành đều cho rằng cần ưu tiên, tập trung cho phát triển vùng ĐBSCL, nhất là hạ tầng giao thông để tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, đẩy mạnh tốc độ xây dựng đường cao tốc, phát triển vận tải thủy vốn là đặc trưng và thế mạnh của vùng. Cùng đó đẩy mạnh logistics để giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh, đưa vùng ĐBSCL phát triển bền vững.

Ưu tiên lớn đầu tư hạ tầng giao thông đồng bằng sông Cửu Long 2

Các đại biểu tham dự hội nghị trực tuyến đều cho rằng cần có giải pháp huy động nguồn lực đầu tư cho hạ tầng giao thông, trong đó tăng tốc độ xây dựng đường cao tốc, thúc đẩy vận tải thủy nội địa và logistics

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Trần Anh Thư, một trong những lý do nhà đầu tư chưa rót vốn nhiều vào vùng ĐBSCL là do yếu kém về hạ tầng và logisitcs nên thời gian tới cần tập trung đẩy mạnh tháo gỡ điểm nghẽn về hạ tầng, trong đó có các trục dọc, trục ngang và hạ tầng hành lang kinh tế ven biển.

“Việc huy động nguồn lực PPP vào đầu tư giao thông như thời gian qua dù có nhiều hình thức nhưng chưa thực hiện tốt nên áp lực dồn về ngân sách đầu tư công, sẽ không thể đủ nguồn lực đầu tư cho ĐBSCL. Do đó, cần xây dựng cơ chế đầu tư, phân cấp nguồn lực đầu tư của Trung ương và địa phương”, bà Thư nhấn mạnh.

Nhiều thay đổi lớn trong kết cấu hạ tầng giao thông

Về kết quả thực hiện Nghị quyết 21 và Kết luận 28 lĩnh vực GTVT trong 2 thời kỳ 2001 - 2010 và 2011 - 2020 của ngành GTVT, ông Lê Đỗ Mười, Viện trưởng Viện Chiến lược và phát triển GTVT cho biết, Bộ GTVT đã phối hợp với các Bộ, ngành và các địa phương trong vùng tập trung nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông (KCHTGT), đến nay cơ bản đã hoàn thành các mục tiêu đề ra trong Nghị quyết.

Cụ thể, đã xây cầu vượt sông trên các tuyến quốc lộ bị chia cắt bởi hệ thống sông lớn; Đầu tư nâng cấp, mở rộng hệ thống quốc lộ. Các nút thắt về đường thủy nội địa cũng được tháo gỡ (kênh Chợ Gạo, âu Rạch Chanh); Mở các đường bay trong nước và quốc tế đến CHK Cần Thơ và Phú Quốc; Thông tuyến luồng cho tàu biển lớn vào sông Hậu vào cảng Cần Thơ…

Ưu tiên lớn đầu tư hạ tầng giao thông đồng bằng sông Cửu Long 3

Thời gian tới ưu tiên đầu tư đường cao tốc, đường kết nối các tỉnh ĐBSCL cũng như kết nối với TP.HCM. Ảnh: minh họa

Cụ thể, về đường bộ, đã cơ bản hình thành các tuyến trục dọc nối ĐBSCL với TP.HCM và các tỉnh khu vực Đông Nam bộ, các tuyến trục ngang kết nối nội vùng. Đến năm 2020, hệ thống quốc lộ trong vùng có tổng chiều dài khoảng 2.688km, tăng 52% so với năm 2002.

Tổng chiều dài mạng lưới đường thủy nội địa vùng ĐBSCL hơn 6.100km. Trung ương hiện quản lý 2.990km. Giai đoạn vừa qua, nhiều công trình trọng điểm về đường thủy nội địa đã được đầu tư đưa vào khai thác như kênh Chợ Gạo (giai đoạn 1), âu Rạch Chanh cũng như các công trình thuộc dự án phát triển cơ sở hạ tầng vùng ĐBSCL (WB5) đã góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động vận tải thủy trong vùng.

Về hàng hải, đã phát triển được hệ thống gồm 12 cảng biển với 37 bến cảng, tổng chiều dài 7.642 m, 23 bến phao và 16 khu neo đậu chuyển tải, khu tránh, trú bão. Nhiều cảng biển, bến cảng đã được đầu tư xây mới trong suốt 20 năm qua, điển hình như bến cảng Cái Cui - Cần Thơ, bến cảng tổng hợp Vinalines Hậu Giang, bến cảng Trà Cú - Trà Vinh đáp ứng cho tàu trọng tải đến 20.000 DWT; Bến cảng Mỹ Thới - An Giang đáp ứng cho tàu trọng tải đến 10.000 DWT...

Về hàng không, đã hoàn thành đầu tư, nâng cấp các cảng hàng không (CHK) trong khu vực bao gồm: CHK quốc tế Cần Thơ, Phú Quốc, CHK Cà Mau, CHK Rạch Giá với tổng công suất 7,45 triệu hành khách/năm, 12.000 tấn hàng hóa/năm.

Mặc dù vậy, ông Mười cũng thừa nhận vẫn còn một số tồn tại, hạn chế nhất định tạo thành những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của vùng. Trong đó, tốc độ đầu tư, xây dựng hệ thống đường bộ cao tốc còn chậm, chưa đạt tiến độ theo Nghị quyết 21 đề ra; Mạng lưới quốc lộ chưa đáp ứng yêu cầu vận tải, nhiều tuyến có tiêu chuẩn thấp, quy mô cấp IV, cấp V do vậy thường xuyên xảy ra tình trạng ùn tắc, tiềm ẩn nguy cơ mất ATGT.

Cùng đó, hệ thống hạ tầng kết nối, hạ tầng sau cảng biển, hạ tầng phục vụ logistics còn thiếu đồng bộ với tiến trình đầu tư các cảng, bến cảng biển chưa đáp ứng yêu cầu vận tải biển của hàng hóa trong vùng, chưa hình thành các trung tâm logistics quy mô lớn trong vùng cũng như thiếu cảng biển có thể tiếp nhận tàu biển trọng tải lớn (từ 50.000 DWT trở lên)...

Kỳ Nam